Tôi nhớ trong một bộ phim mình đã xem từ rất nhiều năm trước — Stand by Me của đạo diễn Rob Reiner — có một câu ở phần kết mà đến tận bây giờ tôi vẫn không quên:
“I never had any friends later on like the ones I had when I was twelve. Jesus, does anyone?”
(Về sau, tôi chẳng bao giờ có được những người bạn nào giống như những người bạn tôi từng có năm mười hai tuổi. Chúa ơi… có ai từng có không?)

Câu nói đó in sâu trong tâm trí tôi, và nó đúng!
Chúa ơi, hồi đó chúng tôi cũng chỉ mới 12 tuổi, nên câu hỏi ấy cứ đeo đẳng tôi rất lâu. Nhất là với một đứa sau này đi du học như tôi, việc tìm lại một tập thể nói chung và những người bạn thân nói riêng gần như là không thể.
Để rồi hôm nay, tôi ngồi trước bàn phím, giống như Gordie năm nào, lặng lẽ gõ lại những dòng ký ức về chúng nó.
Lớp 6C – Trường THCS Chu Văn An – Thành phố Hải Phòng
Tôi gặp chúng nó khi bước vào lớp 6. Đó là năm đầu cấp hai, tôi gần như chẳng quen biết ai.
Lớp 6C — bốn mươi tám học sinh — bốn mươi tám tính cách. Một tập thể rất đặc biệt mà nhiều năm sau đó, dù vẫn ngồi trên ghế nhà trường, tôi chưa từng gặp lại một lớp nào giống như thế nữa.
Nhưng nếu nói về ký ức ở 6C, phần lớn câu chuyện của tôi lại thuộc về đám con trai trong lớp.
Chúng tôi học cùng nhau ở trường. Chúng tôi đá bóng những ngày hè ở Hồ Quần Ngựa, gặp nhau ở lớp học thêm tại Cung Văn hóa Thiếu nhi, rồi kéo nhau tham gia đủ thứ hoạt động ngoại khóa. Xét về độ quậy, đám con trai 6C chắc cũng thuộc hàng nhất nhì khối.
Chúng nó còn có một cái luật trẻ con khá buồn cười: hỏi tháng sinh của nhau để phân vai anh em.
Ôi trời ơi, cùng tuổi cả đấy nhưng nhất quyết phải tìm cho ra thằng nào làm anh.
Tôi sinh tháng 10, thế là tự nhiên có thêm vài chục “thằng anh”.
Lúc vui vẻ thì anh anh em em, lúc cãi nhau thì mày mày tao tao, nhưng 6C luôn là một tập thể rất gắn kết.
Và trong số đông đó, tôi đã gặp và chơi thân với chúng nó, những thằng bạn tri kỷ nhất của mình.
Những người bạn năm mười hai tuổi

Người ta vẫn nói:
“Hãy cho tôi biết bạn của bạn là ai, tôi sẽ nói bạn là người thế nào.”
Câu đó khá đúng với tôi.
Nhưng tất nhiên, ở tuổi mười hai, chẳng đứa nào bận tâm đến những triết lý ấy. Chúng tôi chơi với nhau đơn giản vì thấy hợp.
Và điều buồn cười là nếu phải lần tìm xem tất cả bắt đầu từ đâu, có lẽ tôi phải bắt đầu bằng… một bộ Lego.
Khoảng năm 2001 hay 2002 gì đó, Lego với bọn trẻ chúng tôi vẫn là thứ khá lạ lẫm. Tôi không nhớ mình có bộ Lego ấy từ khi nào, chỉ nhớ là mình mê nó kinh khủng. Có những buổi chiều tôi ngồi hàng giờ liền chỉ để lắp đi lắp lại đủ thứ trên đời.
Rồi đó cũng là lúc tôi gặp Lê Hạ Minh Hiển, rồi tới Vũ Duy Quang. Cả đám tụ tập ở nhà tôi cùng chơi, tranh giành, cãi nhau vì những mảnh ghép, rồi lại cùng nghĩ ra đủ trò ngớ ngẩn khác.
Còn Nguyễn Quang Huy thì khác.
Tôi không quen Huy vì Lego, mà vì nó chơi thân với thằng Quang.
Tiếp xúc… thấy hợp… rồi thành bạn.
Mỗi đứa một tính cách, theo một cách rất riêng, và đều để lại trong tôi những dấu ấn đặc biệt.
Có lẽ chúng nó không để ý đâu, nhưng với tôi, những thằng bạn năm 12 tuổi ấy có ý nghĩa nhiều lắm.
Lê Hạ Minh Hiển

Lê Hạ Minh Hiển là thằng đầu tiên tôi quen.
Mẹ nó — bác An — vốn quen biết với mẹ tôi, mà nhà hai đứa lại ở cùng một con phố, phố Lê Lợi, nên tôi và nó thường xuyên qua nhà nhau chơi và học cùng nhau, thành ra gần như ngày nào cũng gặp.
Nó là một thằng thông minh nhưng khá khác người.
Hiển chẳng mấy khi để ý đến chuyện ăn mặc, quần áo luôn luôn luộm thuộm; đến giờ thể dục thì lại lóng ngóng như gà mắc tóc.
Thú thật, ngồi viết những dòng này mà nghĩ về nó, tôi vẫn phải phì cười.
Nó còn cứ bảo rằng nó không thích cái tên của mình. Tôi thì chẳng hiểu tại sao, vì thấy cái tên ấy hoàn toàn ổn, thậm chí còn đẹp nữa.
Đúng là thằng “hâm” mà.
Mấy chuyện vận động thì nó lóng ngóng là thế, nhưng ngồi trước bàn cờ vua thì nó lại là một thằng Hiển hoàn toàn khác.
Hiển vừa là bạn, nhưng cũng có thể xem là ông thầy cờ vua đầu tiên của tôi.
Chính nó là đứa dạy tôi chơi, và chúng tôi thường ngồi đánh với nhau sau mỗi giờ học thêm.
Lúc mới chơi, tôi toàn thua nó. Thua nhưng lại cuốn kinh khủng.
Nó chỉ tôi cách chơi, chỉ tôi nên suy nghĩ thế nào trước mỗi nước đi.
Rồi đến một lúc nào đó, tôi bắt đầu thắng được.
Mà Hiển thì cũng trẻ con như tất cả chúng tôi thôi.
Có những lúc đi sai một nước, thấy mình sắp thua là nó đòi đi lại.
Tất nhiên tôi không chịu.
Thế là cãi nhau.
Có hôm cãi xong, cả hai còn tuyên bố không chơi nữa.
Nhưng rồi vài ngày sau lại ngồi trước bàn cờ như chưa từng có chuyện gì xảy ra.
Cờ vua đã giúp tôi rèn luyện cách suy nghĩ, tập tính toán trước những nước đi và nhìn một vấn đề xa hơn một chút.
Hiển còn vẽ rất đẹp.
Hồi ấy tôi từng nghĩ với khả năng đó, kiểu gì nó cũng sẽ học kiến trúc cơ.
Nhưng cuối cùng thì không phải.
Sau này nó lại sang Nhật du học và đi theo một con đường khác.
Vũ Duy Quang

Vũ Duy Quang, hay bọn tôi vẫn gọi là Quang hói, nhà chỉ cách nhà tôi chừng ba trăm mét, trong ngõ Tê A.
Tôi nhớ hồi mới vào lớp, khi cả đám vẫn chưa biết ai với ai, cô giáo yêu cầu mỗi đứa làm một tấm bảng tên đặt trước mặt.
Quang được cô khen vì bảng tên của nó to, đẹp và rõ ràng nhất lớp.
Tôi thấy mặt nó lúc ấy vênh lắm.
Nhưng công bằng mà nói, cái bảng tên của nó đẹp thật.
Trong khi phần lớn bọn tôi chỉ lấy một tờ giấy gấp đôi lại cho đứng, có khi còn chẳng đứng được vì giấy mềm quá, thì nó làm hẳn một cái trông như cuốn lịch để bàn.
Nhưng bảng tên đẹp là một chuyện, còn cái mặt vênh vênh ấy thì nhìn vẫn đáng ghét lắm.
Có lần tôi ngồi phía sau, cố bắt chuyện với nó, nhưng hình như nó chẳng quan tâm lắm.
Tôi còn nhớ lúc ấy mình nghĩ:
“Cái thằng hói này thật đáng ghét. Chảnh chó thật chứ.”
Thế mà sau này, chính cái thằng tôi từng thấy khó ưa ấy lại trở thành một trong những người bạn thân nhất của tôi.
Quang cũng là một thằng rất thông minh và điềm đạm.
Tôi hiếm khi thấy nó nóng giận, ít nhất là chưa bao giờ với tôi.
Nhưng kiểu thông minh của nó khác Hiển.
Nếu Hiển là thằng hay lý luận, thích tranh cãi về một vấn đề nào đó, thì Quang lại rất giỏi sắp xếp mọi thứ cho đâu ra đấy.
Tôi còn nhớ lần đầu tới nhà nó chơi, tôi ấn tượng với góc học tập của nó rất nhiều.
Mọi thứ đều sạch sẽ, ngăn nắp.
Nhưng thứ khiến tôi chú ý nhất lại là cái “Bảng kế hoạch” .
Tôi thậm chí còn nghĩ cái bảng ấy mới là bạn thân nhất của nó.
Quang thích lên kế hoạch, ghi chép và sắp xếp mọi việc rất rõ ràng và khoa học.
Hồi đó nhìn nó, tôi nghĩ:
“Thằng này đích thị hói đầu vì suốt ngày sắp xếp lịch trình rồi.”
Nhưng cũng phải công nhận, ở tuổi mười hai, Quang đã có vẻ già dặn hơn bọn tôi một chút.
Sau này nghĩ lại, Quang khiến tôi nhận ra rằng muốn làm tốt một việc, trước hết phải biết sắp xếp chính mình.
Nguyễn Quang Huy

Nguyễn Quang Huy…
Thằng này tôi phải suy nghĩ khá lâu xem nên viết về nó thế nào, bởi nó không giống với những thằng kia.
Những gì tôi nhớ về nó không nằm ở một bài học cụ thể nào.
Tôi không thể nói nó đã dạy tôi chơi cờ như Hiển, hay giúp tôi học cách sắp xếp mọi thứ như Quang.
Nhưng Huy cho tôi một thứ khác.
Một tình bạn rất chân thành.
Một người bạn luôn đi cùng tôi trong những năm tháng ấy.
Với Huy, tình bạn của chúng tôi bắt đầu từ những quãng đường đi học mỗi ngày.
Nhà Huy ở trên đường Cầu Đất nên mỗi lần đi học, nó đều phải qua đường Lê Lợi, ngang qua nhà tôi.
Hồi ấy làm gì đã có điện thoại để nhắn nhau:
“Mày tới đâu rồi?”
Thế nên những ngày đầu, tôi toàn canh giờ, đứng chờ xem khi nào nó đi ngang qua thì chạy ra thôi.
Rồi chẳng biết từ lúc nào, chuyện đó trở thành một thói quen.
Trên suốt quãng đường, chúng tôi nói với nhau đủ thứ chuyện trên trời dưới đất, từ chuyện học hành, bạn bè cho đến những suy nghĩ ngây ngô của tuổi học trò.
Và có lẽ chính những quãng đường đi học bình dị ấy đã gắn kết chúng tôi lại với nhau.
Tình bạn không bắt đầu từ một sự kiện đặc biệt nào cả, mà cứ thế lớn dần lên qua những ngày hai thằng đi bên cạnh nhau.
Không chỉ đi học, sau này chúng tôi còn cùng nhau đi tập cho Hội khỏe Phù Đổng.
Hai thằng đi chung một chiếc xe đạp rồi tự phân công nhau: lượt đi nó đạp chở tôi, còn lượt về thì đến lượt tôi chở nó.
Tôi vẫn nhớ cảm giác lúc mình ngồi trước.
Huy béo hơn tôi khá nhiều, nên mỗi lần chở nó, tôi phải rướn người đạp một chiếc xe đang cõng thêm một thằng nặng hơn mình phía sau.
Tốn sức thật, nhưng phân công lao động hết rồi, biết làm sao giờ.
Mệt thì có mệt, nhưng niềm vui lúc ấy lại nhiều hơn đủ để xóa tan chuyện đó.
Có lần chúng tôi đèo nhau đi ngang qua nhà tôi, bố tôi nhìn thấy.
Ông bật cười trước cảnh hai đứa trẻ thay nhau đạp xe, một thằng nhỏ hơn đang cắm cúi chở một thằng béo hơn ngồi phía sau.
Bây giờ nghĩ lại, tôi vẫn thấy hình ảnh ấy vừa buồn cười, vừa rất đẹp.
Cảm ơn
Khi tôi ngồi viết những dòng này thì đã 35 tuổi.
Giờ đây mỗi đứa đều có cuộc sống riêng.
Chúng tôi vẫn giữ liên lạc với nhau. Vẫn nói chuyện với nhau như hồi 12 tuổi.
Tôi và Quang đều đã lập gia đình.
Chỉ khác là tôi giờ sinh sống trong Sài Gòn, còn Quang vẫn tiếp tục ở Hải Phòng ngần ấy năm.
Hiển thì chưa có gia đình và đang sống ở Hà Nội.
Huy cũng đang sống ở Hải Phòng.
Tuy chúng tôi không còn gặp nhau thường xuyên như trước nữa.
Nhưng ký ức về những năm tháng ấy vẫn còn nguyên ở đó.
Nhiều năm trước tôi nghe Gordie hỏi:
“I never had any friends later on like the ones I had when I was twelve. Jesus, does anyone?”
Tôi không biết câu trả lời của người khác là gì.
Nhưng với tôi, câu trả lời có lẽ là không.
Cảm ơn tụi mày vì những năm tháng ấy đã chơi với tao.




Để lại một bình luận